Tưởng niệm 40 năm Đại lão HT.Thích Giác Nhiên viên tịch

GNO - Sáng 9-2 (5-1-Kỷ Hợi), tại tổ đình Thiền Tôn (thôn Ngũ Tây, P.An Tây, TP.Huế), chư Tăng Ni đệ tử đã trang nghiêm tổ chức lễ tưởng niệm 40 năm ngày Đức Đệ nhị Tăng thống Thích Giác Nhiên viên tịch (1979-2019).

Dâng hương tưởng niệm và cử hành lễ có chư tôn đức giáo phẩm chứng minh, Thường trực Ban Trị sự GHPGVN tỉnh TT-Huế, tỉnh Quảng Trị; chư Tăng Ni các tự viện trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, các tỉnh thành lân cận cùng đông đảo Phật tử các giới trong và ngoài tỉnh.

DSC_0117.JPG


Chư tôn đức về lễ tháp Đức Đệ nhị Tăng thống Thích Giác Nhiên

Trước bảo tháp uy nghi với lời vàng quyện khói trầm nhang, tứ chúng quy tụ về ngọn núi Thiên Thai trong khí thiêng thiền vị đã ôn lại hành trạng cuộc đời và đạo nghiệp của cố Đệ nhị Tăng thống.

Theo tiểu sử, Hoà thượng Giác Nhiên tên thật là Võ Chí Thâm, sinh ngày 7 tháng 1 năm 1878, tại làng Ái Tử, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.

Năm 18 tuổi (1896), ngài vào chùa Từ Hiếu xin xuất gia, thờ Hoà thượng Tâm Tịnh làm bổn sư.

Năm 20 tuổi (1898), được bổn sư xuống tóc cho thọ giới Sa-di và ban pháp danh Trừng Thuỷ, pháp tự Chí Thâm.

Tại Huế, sau hai mươi ba năm tu học, ngài chuyên tâm nghiên cứu tinh yếu của Kinh Luật Đại thừa, đặc biệt, ngài đã sử dụng phần lớn thời gian trong việc Thiền định. Vì thế, đạo phong của ngài ngày càng đượm nét Thiền sư.

Đến năm Canh Tuất (1910), triều Duy Tân, ngài cùng với Hoà thượng Tịnh Khiết thọ Tam đàn Cụ túc Giới tại chùa Phước Lâm (Hội An). Đại giới đàn này do ngài Vĩnh Gia làm Đường đầu Hòa thượng, ngài Tâm Truyền làm Yết-ma A-xà-lê và ngài Hoằng Phú làm Giáo thọ A-xà-lê. Sau đó ngài đắc pháp và được Bổn sư ban hiệu là Giác Nhiên, phú pháp bài kệ:

Giác tánh tự thiên nhiên,
Sắc không bất hiện tiền.
Vật ngại nhàn nhơn sự
Cần tu bổn lý thiền.
 

Nguyên Hồng dịch:

Tính giác vốn tự nhiên
Sắc không chẳng hiện tiền
Ngại chi trò thế sự
Siêng tu diệu lý thiền.

 Từ đó, giới đức tinh nghiêm, pháp thân thanh tịnh là kim chỉ nam trong suốt cuộc đời hoằng hoá của ngài sau này.

DSC_0127.JPG


Cung tuyên tiểu sử Trưởng lão HT.Thích Giác Nhiên

Năm ngài 32 tuổi, Bổn sư viên tịch, Hòa thượng phải tìm đến chùa Thiên Hưng để cầu xin học đạo với Hoà thượng Huệ Pháp. Từ đó đạo hạnh của ngài càng sáng lên, khắp thiền lâm đều ngưỡng mộ về Thiền và Luật của ngài, cũng như phương pháp tu trì của Hòa thượng.

Năm Kỷ Mùi (1919), ngài được Bộ Lễ cử về làm trú trì Thánh Duyên quốc tự, sau đó lại được "Chỉ" của vua Khải Định cử làm Tăng cang chùa này.

Năm 1932, Hoà thượng là một trong năm vị Tăng-già đã cùng với 17 cư sĩ lập ra An Nam Phật học Hội tại Huế. Ngài cũng ở trong Hội đồng Chứng minh đại đạo sư cho hội này. Ngài đã cùng với cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám sáng lập ra Viên Âm nguyệt san để hoằng truyền Chánh pháp.

Vào năm 1935, ngài là một trong những vị lập trường Đại học Phật giáo tại chùa Tây Thiên, cung thỉnh ngài Quốc sư Phước Huệ ở tổ đình Thập Tháp ra làm “Giáo thọ sư” và ngài làm giám đốc. Lớp này đào tạo được nhiều vị cao tăng như các ngài Thiện Hoà, Thiên Hoa từ trong Nam ra học; các ngài Trí Thủ, Đôn Hậu, Chánh Thống, Mật Nguyện, Mật Hiển, Thích Vĩnh Thừa ở Huế.

Năm 1936, triều đình phong cho ngài lên chức Tăng cang Thánh Duyên quốc tự. Cùng năm đó, Tạp chí Viên Âm, phương tiện hoằng pháp của Phật giáo, do ngài và Hoà thượng Giác Tiên chứng minh.

Năm 1937, do uỷ nhiệm của các vị tôn đức Thiền gia, ngài nhận chức trú trì tổ đình Thuyền Tôn (Thừa Thiên). Tổ đình này thuộc phái Lâm Tế, do Tổ Liễu Quán khai sơn vào khoảng năm thứ IV niên hiệu Vĩnh Thịnh (1708).

Năm 1956, ngài được Giáo hội Phật giáo Trung phần cung thỉnh vào chức vụ Viện trưởng Phật học viện Hải Đức - Nha Trang (nơi đào tạo tăng tài của Phật giáo Trung phần).

Năm 1958-1962, ngài liên tiếp đảm nhận chức Chánh Hội trưởng Tổng Trị sự Hội Phật giáo Trung phần trong suốt 4 niên khoá. Trong thời gian này, với tuổi trên 80, ngài vẫn chu toàn nhiệm vụ, kinh lý, nhiều lần đến các Hội Phật giáo khắp nơi.

DSC_0130.JPG


Phật tử thành kính tưởng niệm ngài

Xúc động hơn nữa, cũng chính ngài, năm 86 tuổi, sức yếu thân gầy, trong tay chiếc gậy trúc, không từ nan, quyết một lòng hy sinh vì Đạo, đích thân dẫn đầu cuộc biểu tình của Tăng tín đồ Phật giáo Thừa Thiên Huế, mở đầu phong trào vận động đòi hỏi tự do tín ngưỡng và bình đẳng tôn giáo vào chiều 14-4-1963 (Quý Mão). Trong công cuộc vận động và đấu tranh, ngài đã không ngừng chung lưng đấu cật, chia sẻ đắng cay cùng với phong trào cho đến ngày thành tựu mỹ mãn.
 
Một công việc Hoằng pháp trọng yếu hơn nữa, ngài đã nhiều lần làm Đường đầu Hoà thượng truyền giới cho đồ chúng xuất gia tại gia qua các Đại giới đàn: Giới đàn Hộ Quốc tại Phật học viện Trung phần, chùa Hải Đức, Nha Trang (1956); Giới đàn Vạn Hạnh tại chùa Từ Hiếu, Huế (1965), Giới đàn Vĩnh Gia tại Phật học viện Phổ Đà, Đà Nẵng (1970).

Môn đồ của ngài không nhiều, người còn kẻ mất, đều đã góp công làm nên lịch sử Phật giáo hiện đại, và hầu hết là những cấp lãnh đạo của Giáo hội từ trung ương đến các miền, tỉnh thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam, như Hoà thượng Thiện Siêu, Hoà thượng Thiện Minh, Hoà thượng Thiện Bình...

Trang trải quá nửa đời người, nghịch cảnh, chướng ngại vẫn còn bủa vây Giáo hội cùng dân tộc. Tuy nhiên, nhất thâm nhật hậu, với bản chất cố hữu “Vô ngôn bất động” của ngài qua Giới, Định, Tuệ, đã tạo nên một sức mạnh nội tại phi thường như để tiếp sức cho những đứa con tinh thần, đang trên đường làm sứ mệnh Phật giáo Việt Nam.

Rồi tin ngừng bắn được loan đi vào ngày 28-1-1973, đất nước rẽ sang một giai đoạn mới, từ đó, Giáo hội cũng bắt đầu đối mặt với một hoàn cảnh khá phức tạp và tế nhị. Không bao lâu, sau khi Đức Đệ nhất Tăng thống của Giáo hội thị tịch (1973) - sinh hoạt của Giáo hội trở nên chông chênh không người lèo lái. Trước hoàn cảnh đó, ngài đã nhận chức vụ Đệ nhị Tăng thống do Đại hội Phật giáo kỳ V suy tôn vào ngày 10-12-1973, trong chí nguyện Thiệu long Tam bảo, kế tục lãnh đạo Giáo hội. Đây là chức vụ vừa tối cao, và cũng là cuối cùng của đời ngài.

Mặc dầu công việc đối ngoại của Giáo hội đa đoan và phức tạp, ngài vẫn không xao lãng việc nhiếp hoá đồ chúng. Ngài từng huấn dụ Tăng Ni: “Đạo Phật tồn tại, không chỉ ở hình thức chùa tháp, lễ nghi, kinh điển. Mặc dù kinh điển là chỉ nam hướng dẫn ta đến đạo quả vô thượng Bồ-đề, nhưng sự tồn tại đích thực chính là ở sự thể hiện Đạo phong. Những nếp sống gương mẫu của các bậc Tăng-già nghiêm trì giới luật và biết tận lực phục vụ Chánh pháp, để Chánh pháp mãi mãi tồn tại với thế gian và làm lợi ích chúng sanh...” (Thư gửi Tăng Ni, nhân mùa An cư PL.2520 - 1976).

Thật vậy, mặc dầu đã ngoài 100 tuổi, nhưng nơi ngài không hề thấy có triệu chứng thông thường của những bậc luống tuổi. Pháp thể tuy có gầy ốm nhưng ngài vẫn đi đứng bình thường. Dáng đi mạnh mẽ khoan thai, oai nghiêm đĩnh đạc, không phiền người dìu dắt, không hề nắm gậy, ngồi hàng giờ lưng không biết đau, gối không biết mỏi. Mắt không mờ tai không lãng, nói năng rõ ràng không hề lẫn lộn và trí tuệ minh mẫn một cách lạ thường.

DSC_0143.JPG


Chư tôn tịnh đức dâng hương tưởng niệm

Trong dịp đầu Xuân Kỷ Mùi khi Hoà thượng Đôn Hậu - Chánh Thư ký Viện Tăng thống và quý Hoà thượng, Thượng toạ, Đại đức trong Giáo hội Thừa Thiên đến tổ đình Thuyền Tôn đảnh lễ và khánh tuế đầu năm (4-1-Kỷ Mùi). Hôm đó trời trở lạnh, ngài đang nghỉ, Hoà thượng Đôn Hậu và Ban Đại diện Giáo hội vào tận chỗ nghỉ. Ngài hỏi bằng một giọng nhẹ nhàng và vô cùng cảm mến: “Ai đó?”. Sau khi được trình lại, ngài sửa soạn định ngồi dậy, Hoà thượng Đôn Hậu: “Xin thỉnh Ôn cứ nằm, cho phép chúng con được đảnh lễ chúc thọ đầu năm”. Ngài dạy: “Để tôi ngồi dậy một tí với các Thầy, nằm ri e không phải lễ với các Thầy chừ”. Đoạn ngài ngồi dậy, nhìn quanh rồi hỏi: “Thầy Đức Tâm mô, sao không vào cho tôi thăm với?” (Hôm đó thầy Đức Tâm, Phó Đại diện Giáo hội tỉnh Thừa Thiên-Huế bị bệnh, không đi được). Ngần ấy lời lẽ, đủ thấy ngài sáng suốt đến chừng nào.

DSC_0151.JPG


Nhiễu tháp Trưởng lão Hòa thượng

Sau lễ khánh tuế, như một vị Bồ-tát “Dự tri thời chí”, linh cảm trước được sự ra về vĩnh viễn của mình, ngài ân cần dạy bảo những lời đầu năm vô cùng xúc động: “Tôi nay tuổi đã già rồi. Tôi thấy sức khoẻ tôi kém nhiều, chưa biết chừng sự chết sẽ đến nay mai. Nay, nhân dịp đầu năm, Hoà thượng và các Thầy đến thăm tôi, tôi xin cảm ơn và xin cầu Phật gia hộ Hoà thượng và các Thầy nhiều sức khoẻ, cố gắng kiên nhẫn trước mọi nghịch cảnh để phục vụ Giáo hội, dìu dắt Tăng Ni tín đồ tu niệm. Tôi thật không có gì vui mừng hơn”.

Ngờ đâu, lời huấn thị đầu Xuân và cũng là lời di giáo tối hậu của Đức Tăng thống. Chỉ vỏn vẹn một ngày sau, và cũng chỉ sau vài giờ pháp thể khiếm an, ngài dạy: “Vô thường thị thường” rồi an nhiên xả báo thân vào hồi 6 giờ 30 ngày 6 tháng Giêng năm Kỷ Mùi (1-2-1979). Ngài hưởng thọ 101 tuổi đời, 68 Hạ lạp. Bảo tháp của ngài hiện tôn trí tại khuôn viên tổ đình Thuyền Tôn - Huế.

Tin cùng chuyên mục

Tin mới

Thư viện

Thông tin hàng ngày

© Giác Ngộ Online
Số giấy phép: 398/GP-BTTTT ngày 2-8-2022.
Tổng biên tập: TT.Thích Tâm Hải.
Trụ sở tòa soạn: 85 Nguyễn Đình Chiểu, phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh
©2008-2023. Toàn bộ bản quyền thuộc Báo Giác Ngộ.