Đại sư Ấn Lan - Từ Trí (1852-1921) và Văn bia chùa Linh Ứng ở Ngũ Hành Sơn

Đại sư Ấn Lan - Từ Trí (1852-1921) và Văn bia chùa Linh Ứng ở Ngũ Hành Sơn
0:00 / 0:00
0:00
NSGN - Hòa thượng thế danh Nguyễn Viết Lư (Lô), hiệu Thức Trai (式齋), sinh năm Nhâm Tý (1852) tại xã An Bình, phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam (cũ).

Năm Bính Dần (1866), ngài xuất gia với Hòa thượng Chương Quảng - Mật Hạnh (1822-1884) tại tổ đình Linh Ứng ở Ngũ Hành Sơn, được Tổ Mật Hạnh ấn chứng, truyền trao y bát và ban cho pháp hiệu Từ Trí (慈智) vào năm Giáp Thân (1884) khi ngài vừa tròn 32 tuổi(1).

Cuộc đời của ngài có những đóng góp to lớn cho Phật giáo vùng Ngũ Hành Sơn nói chung và cho cả hai ngôi chùa Tam Thai và Linh Ứng trên ngọn Thủy Sơn mà ngài đã đảm nhận trú trì. Đặc biệt, ngài là vị Tăng cang(2) đầu tiên của vùng đất Quảng Nam - Đà Nẵng. Trong những đóng góp quan trọng của ngài, đáng chú ý là đã chỉ dạy cho đệ tử là tú tài Hồ Thăng Doanh biên soạn cuốn Ngũ Hành Sơn lục (五行山錄)(3), là một tác phẩm có giá trị nghiên cứu về lịch sử, văn hóa của Ngũ Hành Sơn nói chung. Với những cống hiến to lớn về nhiều mặt ở cả hai ngôi chùa Tam Thai và Linh Ứng ở Ngũ Hành Sơn, chư tôn đức Môn phong và chư vị thiện hữu tri thức đã dựng văn bia, vừa để ghi nhận cảnh trí trác tuyệt của Ngũ Hành Sơn và cũng để khái quát những sự kiện trọng đại trong cuộc đời phụng đạo của ngài.

Nhân đây, chúng con xin được sao lục lại nguyên tác, phiên âm và dịch nghĩa văn bia, được dựng lập ở chùa Linh Ứng vào triều vua Duy Tân năm thứ chín(4) (1915).

Văn bia chùa Linh Ứng

Văn bia chùa Linh Ứng

Nguyên tác

山有仙則名, 地以人而勝:

五行山我南之第一名勝也. 山有三台,靈應二寺. 敕賜僧綱阮式齋,法名印蘭,升平安平人也。年少悟禪,於嗣德拾玖年訪仙峰入靈應寺。寺之住持密行和上衣鉢傳之。建福元年,法號慈智大師。同慶弍年為靈應寺住持。四五齋壇匀預尊證。成泰柒年,欽差南義總督大臣阮大人察咨僧徒信服,科犯諳詳舉充僧綱兼三台、靈應二寺。十二年十一月,蒙賜:有心像教四字,蛟花朱漆,金鏘高掛。十四年,奉駕御本寺齋壇;又蒙賞五福銀錢二枚,佛力、皇恩、六袠,以前功圓行滿矣。逮維新五年,由以禪堂狹窄,增構精廬一座在靈應寺右,名曰「禪流尊斯堂」也。海月長凝三昧印,山雲默證六如緘。雙臺者其辟障之境歟,空洞者其探玄之窟歟?大壑盈盈,長天一色;又其澄心之境致歟?溯。夫一千年前,五行一海島;一千年後,五行一名山。五行山之名,於我南國自有天然奇勝也。雖然不有仙骨,難叩玄壇,惟抱佛心,始招禪梵。式齋此身,佛耶仙耶。彼其朝自雷,暄心自寂。海同天際,性同圓。此人而得此山,得得而來,蓋亦仙而佛也。禪流尊有堂,則其自來色相兮量,式齋其為禪流之尊乎?

噫!山有五行,僧有五通,天作之合,在此山中,式齋和上,萬古高風。

旹皇朝維新玖年乙卯春

奠磐府知府阮廷薦 謹記

原平順按察使阮德筠 斧政

奠磐府知府膺苹,教授武泰,沐恩弟子 同潤

秀才武弘勁 檢

秀才胡陞瀛 奉書

九品黃文笑 鐫.

Phiên âm

Sơn hữu tiên tắc danh

Địa dĩ nhơn nhi thắng.

Ngũ Hành Sơn ngã nam chi đệ nhất danh thắng dã. Sơn hữu Tam Thai, Linh Ứng nhị tự. Sắc tứ Tăng cang Nguyễn Thức Trai pháp danh Ấn Lan, Thăng Bình, An Bình nhơn dã. Niên thiếu ngộ thiền, ư Tự Đức thập cửu niên, phỏng tiên phong nhập Linh Ứng tự. Tự chi trụ trì Mật Hạnh Hòa thượng y bát truyền chi. Kiến Phước nguyên niên [1884] , pháp hiệu Từ Trí Đại sư. Đồng Khánh nhị niên vi Linh Ứng tự trụ trì. Tứ, ngũ trai đàn quân dự tôn chứng. Thành Thái thất niên, Khâm sai Nam Nghĩa Tổng Đốc Đại Thần Nguyễn Đại Nhơn, sát tư Tăng đồ tín phục, khoa phạm am tường, cử sung Tăng cang kiêm Tam Thai, Linh Ứng nhị tự. Thập nhị niên thập nhất nguyệt, mông tứ: Hữu tâm tượng giáo tứ tự, giao hoa châu tất, kim thương cao quải. Thập tứ niên, phụng giá ngự bổn tự trai đàn; hựu mông thưởng Ngũ phúc ngân tiền nhị mai, Phật lực, Hoàng ân, lục trật dĩ tiền công viên hạnh mãn hỷ. Đãi Duy Tân ngũ niên do vi thuyền đường hiệp trách tăng cấu tinh lư nhất tòa tại Linh Ứng tự hữu, danh viết Thuyền Lưu Tôn Tư Đường dã. Hải nguyệt trường ngưng Tam-muội ấn, Sơn vân mặc chứng lục như giam. Song đài giả kỳ tích chương chi cảnh dư, Không Động giả kỳ thám huyền chi quật dư, đại hác doanh doanh, trường thiên nhất sắc; hựu kỳ trừng tâm chi cảnh trí dư. Sóc! Phù nhất thiên niên tiền, Ngũ Hành nhất hải đảo, nhất thiên niên hậu, Ngũ Hành nhất danh sơn. Ngũ Hành Sơn chi danh, ư ngã Nam quốc tự hữu thiên nhiên kỳ thắng giả. Tuy nhiên, bất hữu tiên cốt, nan khấu huyền đàn, duy bảo Phật tâm, thỉ chiêu Thuyền Phạm. Thức Trai thử thân, Phật gia Tiên gia. Bỉ kỳ triều tự lôi, huyên tâm tự tịch. Hải đồng thiên tế tánh đồng viên. Thử nhơn nhi đắc thử sơn, đắc đắc nhi lai cái diệc Tiên nhi Phật giả.

Thuyền Lưu Tôn hữu đường, tắc kỳ tự lai sắc tướng hề lượng, Thức Trai kỳ vi thuyền lưu chi tôn hồ. Ức sơn hữu Ngũ Hành, Tăng hữu Ngũ thông, thiên tác chi hiệp, tại thử sơn trung, Thức Trai Hòa thượng, vạn cổ cao phong.

Thời Hoàng triều Duy Tân cửu niên, Ất Mão xuân.

Điện Bàn Phủ, tri phủ Nguyễn Đình Tiến, Cẩn ký.

Nguyên Bình Thuận Án sát sứ, Nguyễn Đức Quân, Phủ chính.

Điện Bàn Phủ, tri phủ Ưng Bình - Giáo thọ Võ Thái - Mộc Ân đệ tử, Đồng nhuận.

Tú tài Võ Hoàng Kính, Kiểm.

Tú tài Hồ Thăng Doanh, Phụng thư.

Cửu phẩm Huỳnh Văn Tiếu, Tuyên.

Dịch nghĩa:

[BIA CHÙA LINH ỨNG]

Núi có tiên thì nổi danh

Đất nhờ người mà ưu thắng.

Ngũ Hành Sơn là danh thắng bậc nhất của nước Nam ta. Trên núi có hai ngôi chùa là Tam Thai và Linh Ứng. Ngài Nguyễn Thức Trai, pháp danh Ấn Lan, được vua sắc phong làm Tăng cang, là người làng An Bình, phủ Thăng Bình. Niên thiếu ngài đã ngộ thiền cơ, năm Tự Đức thứ mười chín(5) đã tìm đến núi Tiên mà vào chùa Linh Ứng. Trụ trì chùa là Hòa thượng Mật Hạnh đã truyền y bát cho ngài. Vào năm đầu niên hiệu Kiến Phước(6), ngài được ban pháp hiệu là Đại sư Từ Trí.

Năm Đồng Khánh thứ hai(7) làm trụ trì chùa Linh Ứng, và đều dự vào hàng chứng minh cho bốn, năm trai đàn. Năm Thành Thái thứ bảy(8), quan đại thần khâm sai, Tổng đốc Nam Ngãi, là đại nhân họ Nguyễn(9), sau khi xem xét và thấy rằng, Đại sư được Tăng Ni và tín chúng kính phục, am tường kinh điển và khuôn phép tu hành, nên đã cử ngài giữ chức Tăng cang, kiêm quản hai chùa Tam Thai và Linh Ứng. Vào tháng 11, năm thứ 12(10), được ban tặng bốn chữ “Hữu tâm tượng giáo”(11), hoa văn sơn đỏ, biển vàng treo cao.

Năm [Thành Thái] thứ mười bốn(12), được Thánh thượng ngự đến trai đàn của bổn tự; lại được ân thưởng hai đồng ngân tiền Ngũ Phúc, nhờ Phật lực, Hoàng ân [mà được] sáu xấp lụa, công đức trước đây viên thành, hạnh nguyện tròn đủ vậy. Đến năm Duy Tân thứ năm(13), do vì thiền đường chật hẹp nên dựng thêm một ngôi tịnh thất ở bên phải chùa Linh Ứng, đặt tên là “Thiền Lưu Tôn Tư Đường”. Trăng biển lặng ngưng in Tam-muội; mây núi âm thầm chứng Lục như(14). Song Đài(15) ấy chẳng phải là nơi mở rạng và che chở? Không Động ấy lẽ nào là hang khám phá lẽ sâu mầu? Biển cả mênh mông, trời rộng một màu, cũng là cảnh giới lắng tâm chăng?

Ngẫm lại!

Một nghìn năm trước, Ngũ Hành là một hải đảo; một nghìn năm sau, Ngũ Hành là một danh sơn. Danh xưng Ngũ Hành Sơn ở nước Nam ta vốn là thắng tích kỳ diệu của thiên nhiên. Tuy nhiên, nếu không có cốt cách tiên nhân ắt khó gõ Huyền đàn(16), chỉ khi giữ gìn được tâm Phật mới khai mở già-lam(17). Thân này của ngài Thức Trai, là Phật chăng? Tiên chăng? Ngoài kia sóng tự rền như sấm, mà cõi lòng ấm áp tịch nhiên. Biển liền trời thẳm, tánh hợp viên dung. Người này mà gặp được núi này, thong dong mà đến, có lẽ cũng là tiên là Phật vậy! Thiền Lưu Tôn có thêm căn nhà thì duyên kia cũng là tự đến, sắc tướng sao mà lường hết được? Phải chăng Thức Trai là bậc tôn quý trong dòng thiền ấy?

Lạ thay! Núi có Ngũ Hành, Tăng có Ngũ Thông, trời khéo tác hợp, giữa ngọn núi này, Hòa thượng Thức Trai, với cốt cách thanh cao muôn thuở.

Vào mùa xuân Ất Mão, năm Duy Tân thứ chín(18).

Phủ Điện Bàn, Tri phủ Nguyễn Đình Tiến, kính soạn.

Nguyên Án sát sứ Bình Thuận, Nguyễn Đức Quân, chỉnh sửa.

Phủ Điện Bàn, tri phủ Ưng Bình - giáo thọ Võ Thái - những đệ tử gội ân, cùng nhuận sắc.

Tú tài Võ Hoằng Kính, kiểm tra.

Tú tài Hồ Thăng Doanh, vâng mệnh viết.

Cửu phẩm Hoàng Văn Tiếu, khắc.

_____

Tịnh Quang, 30-6-Ất Tỵ

(1)Theo, Thích Như Tịnh, Phổ hệ truyền thừa Thiền phái Lâm Tế - Chúc Thánh Quảng Nam - Đà Nẵng, NXB.Hồng Đức, 2024, tr.120.

(2)Trần Đức Anh Sơn, “Ngũ Hành Sơn qua ngòi bút của Thích Đại Sán và Albert Sallet”, Đà Nẵng miền Trung, những vấn đề về lịch sử văn hóa (2017), TP.HCM: NXB.Văn hóa Văn nghệ, tr.124, ghi nhận rằng: Dưới triều Minh Mạng, mỗi Tăng cang được lãnh 1 vuông lúa và 3 lạng bạc, mỗi trú trì được lãnh 1 vuông lúa và 2 lạng bạc, mỗi Tăng chúng được lãnh 1 vuông lúa và 2 lạng bạc; sang triều Duy Tân, mỗi Tăng cang được lãnh 1,66 đồng bạc Đông Dương, mỗi trú trì được lãnh 1,58 đồng và mỗi Tăng chúng được lãnh 1,26 đồng. Với số bổng lộc ít ỏi như vậy nên cuộc sống của các sư sãi trong các ngôi chùa ở Ngũ Hành Sơn rất đạm bạc, nghèo nàn. Họ phải canh tác nơi các mảnh đất hẹp hiếm hoi ở dưới chân núi để có nguồn lương thực và rau củ sinh sống, và nhờ vào sự cúng dường của các đệ tử trong vùng.

(3)Ngũ Hành Sơn lục (五行山錄): Là một tác phẩm viết tay do Tú tài Hồ Thăng Doanh biên soạn vào năm 1916. Theo Nguyễn Dị Cổ, trong bài viết: Ngũ Hành Sơn lục - thư tịch quý của xứ Quảng, đăng trên Báo Đà Nẵng Online, ngày 30-10-2016 thì tác phẩm gồm 46 tờ viết tay, miêu tả danh thắng Ngũ Hành Sơn; sao lục nhiều thơ văn đề vịnh trên Ngũ Hành Sơn; phản ánh tình hình phát triển Phật giáo ở Quảng Nam lúc bấy giờ; thông qua các vị Tăng cang, trụ trì, Tăng chúng, thủ lễ, đệ tử…; ghi chép thể thức thờ Phật và một số bài thơ đặt ở cuối quyển.

(4)Duy Tân cửu niên (維新玖年), tức năm 1915.

(5)Tự Đức thập cửu niên (嗣德拾玖年): Tức năm 1866.

(6)Kiến Phước (建福): Niên hiệu của Nguyễn Phúc Ưng Đăng (阮福膺登). Ông lên ngôi ngày 2 tháng 12 năm 1883, tại vị được 8 tháng thì qua đời, được truy tôn miếu hiệu là Nguyễn Giản Tông (簡宗), thụy hiệu Nghị Hoàng Đế (毅皇帝), ông dùng niên hiệu là Kiến Phúc (建福) nên còn được gọi là Kiến Phúc Đế (建福帝).

(7)Đồng Khánh nhị niên (同慶弍年): Năm Đồng Khánh thứ hai, là năm 1887.

(8)Thành Thái thất niên (成泰柒年): Năm Thành Thái thứ bảy, tức năm 1895.

(9)Nguyên tác Nam Nghĩa Tổng đốc (南義總督). Vào năm Thiệu Trị thứ 7 (1847) bỏ chức Tuần phủ, đặt chức Tổng đốc Nam Ngãi.

(10)[Thành Thái] thập nhị niên thập nhất nguyệt ([成泰]十二年十一月): là năm 1900.

(11)Hữu tâm tượng giáo (有心像教): Chỉ cho bậc có tâm trong thời Tượng pháp.

(12)[Thành Thái] thập tứ niên ([成泰]十四年): là năm 1902.

(13)Duy Tân ngũ niên (維新五年): Là năm 1911.

(14)Lục như (六如): Còn gọi là Lục dụ (又名六喻). Kinh Kim cang ghi rằng: Tất cả pháp hữu vi/ Như mộng, huyễn, bào, ảnh/ Như sương cũng như điện/ Nên quán sát như thế (一切有為法,如夢幻泡影,如露亦如電,應作如是觀).

(15)Song đài (雙臺): Chỉ cho Vọng Giang đài (望江臺) và Vọng Hải đài (望海臺).

(16)Huyền đàn (玄壇): Chốn thờ tự linh thiêng của Đạo giáo.

(17)Nguyên tác Thiền Phạm (禪梵): Chỉ cho Thiền môn - Phạm vũ, là ngôi chùa Phật, đối với Huyền đàn. Ở đây tạm dùng là già-lam.

(18)Duy Tân cửu niên (維新玖年): tức năm 1915.

(NSGN 353)

Tin cùng chuyên mục

Tin mới

Thư viện

Thông tin hàng ngày

© Giác Ngộ Online
Số giấy phép: 389/GP-BTTTT ngày 02-8-2022
Tổng Biên tập: Thượng tọa Thích Tâm Hải
Trụ sở tòa soạn: 85 Nguyễn Đình Chiểu, phường Xuân Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh
©2008-2025 - Toàn bộ bản quyền thuộc Báo Giác Ngộ.